ĐỀN CHÍNH
Kiến trúc đền chính Đậu An (nay gọi là đền An Xá) mang phong cách cổ kính, đặc sắc với cấu trúc chữ Đinh, bao gồm tiền tế và hậu cung,
Phần Tiền tế của Đền được làm bằng gỗ lim với hình thức con chồng đấu sen cổ kính tinh xảo với bề dài trên 20 mét, bề rộng hơn 9 mét cao trên 9 mét tượng trưng cho con số của cửu trùng thiên vân. Hệ thống cột được làm từ những cây gỗ lim cổ thụ vững chãi nâng đỡ phần mái như những cây cột chống trời. Phần mái bao gồm các quá giang, kèo cầu được đục trạm hình các linh vật với kích thước hùng vĩ. Kiến trúc con chồng đấu sen mang đậm phong cách kiến trúc thời Hậu Lê. Trải qua mấy trăm năm kết cấu của ngôi Đền Chính vẫn vô cùng bền vững kì vĩ và tinh xảo. Các nghệ nhân xưa đã gửi trọn tín tâm thánh thiện và tài năng vào từng nét kiến trúc của ngôi Đền. Trong phần tiền tế có 3 bức hoành phi và 3 cặp câu đối bằng chữ Hán có nội dung ngợi ca công ơn của Ngọc Hoàng, các vị Thiên Tiên, Địa Tiên đã giáng phàm ban phước cho nhân dân.
Trong phần Tiến tế có các ban thờ các vị Thiên Tiên, Địa Tiên, các vị tiên linh thánh đức có công phù trợ nhân dân.
Hậu cung của đền được làm hoàn toàn bằng đá xanh từ cột kèo, quá giang và hồi hậu phía sau đều là đá nguyên khối trạm khắc tinh xảo nổi bật với các hoa văn thể hiện tài hoa của nghệ nhân xưa. Phần hậu cung có kích thước và kĩ thuật trạm trổ kết cấu đá xanh rất tinh diệu mà đến các nghệ nhân làm đá ngày nay cũng khó theo kịp. Hậu cung cũng là nơi thờ ngai vàng và y bào của Ngọc Hoàng Thượng Đế tối thượng, tối linh – Người làm chủ 3 cõi độ trì ban phúc giáng quả cho tam giới.
Tương truyền từ ngàn xưa những ai ăn ở hiền đức thành tâm đến Đền Chính cầu lễ thì vạn sự đều thành không kể quan chức đến dân nghèo.
Ngoài Đền Chính với Tháp đất nung gần ngàn năm tuổi, Di tích Đền An Xá còn có các đền, miếu nằm trong quần thể tín ngưỡng tâm linh “ tam giáo đồng nguyên” thể hiện bản sắc văn hóa người Việt xưa với nhiều đền, miếu, phủ:

Lễ hội đền An Xá

Đền Đậu An được bao quanh bởi hổ nước tạo thành nơi thủy tụ
ĐỀN CÓ TAM QUAN
Cổng Tam quan đền An Xá có dáng vẻ bề thế, uy nghi được dựng trên bình đồ hình vuông, gồm 3 cửa ra vào với hai tầng mái. Xung quanh bốn góc dựng bốn cột trụ lớn. Đỉnh cột trụ đắp hình tượng “Phượng Tụ Vỹ” – tức là 4 phượng chụm đuôi vào nhau, đôi cánh bay lên phía trên, đầu ngẩng lên trong tư thế chuẩn bị cất cánh tượng trưng cho sự hưng vượng phú quý trường tồn của mảnh đất thiêng mang huyền tích Tiên hạ phàm. Phía dưới là phần ô lồng đèn trang trí đề tài tứ linh long – li – quy – phụng. Thân trụ xây vuông, đắp gờ, kẻ nổi thể hiện đôi câu đối chữ Hán với nội dung ca ngợi cảnh đẹp của di tích. Đế trụ làm kiểu quả găng, xây gờ giật cấp, trang trí hoa văn mềm mại. Mái Tam quan lợp ngói mũi hài. Cổng Tam quan đền An Xá là nơi treo chuông đồng cổ. Mỗi khi tiếng chuông ngân vang vọng cả miền quê yên bình thức tỉnh nhân sinh hướng thiện tạo phúc lành.

Cổng tam quan
Xung quanh khu vực trong đền có:
ĐỀN MẪU
Thờ Mẫu là tín ngưỡng dân gian của người Việt. Mẫu là đấng linh thiêng trong Công đồng Tứ phủ. Mỗi người đều sinh ra từ Mẹ ( Mẫu), thiên hạ cũng nhờ Mẫu mà sinh trưởng phát triển có được phúc lộc thọ trường viên mãn. Đền Mẫu (hay còn gọi là Phủ Mẫu) nằm bên trái cổng Tam quan, đăng đối với đền Thiên Quan. Hiện tại, đền Mẫu có bố cục mặt bằng tổng thể hình chữ Đinh gồm: Tiền tế và Hậu cung, được làm theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngai. Tiền tế đền Mẫu là một tòa nhà gồm 3 gian, nền nhà lát gạch vuông hạ dần xuống sân qua một bậc thềm. Phần mái lợp ngói mũi hài. Mặt trước tòa Tiền tế có hệ thống cửa được làm theo lối “Thượng song hạ bản”. Ba mặt còn lại xây tường bao kín lên đến dạ tầu mái. Hệ thống vì nóc được làm theo kiểu “chồng rường giá chiêng”. Các bộ vì nách làm kiểu “bán chồng rường”. Phần trang trí tập trung nhất của tòa Tiền tế là gian trung tâm, nơi đặt ban thờ tam tòa Thánh Mẫu. Phía trên treo bức đại tự đề 3 chữ Hán “Thánh Mẫu từ” ( đền thờ Thánh Mẫu). Phía dưới đặt ban thờ Tam toà thánh Mẫu và Ngũ vị tôn ông. Hai gian bên là nơi đặt ban thờ Trần Triều linh thánh và ban thờ Bà chúa Sơn Trang được trang hoàng uy nghi, lộng lẫy.
ĐỀN CÔNG ĐỒNG
Đền Công Đồng (hay còn gọi là đền Thiên Quan – đền thờ các Quan nhà Trời) nằm bên phải Tam quan (theo hướng Đền Chính nhìn ra). Đền là nơi tôn thờ các đức ông Thiên Quan. Trước cửa đền có giếng ngọc, nước giếng thường được dùng ngâm gạo nếp để nấu xôi, đóng oản thờ vào mỗi dịp lễ Tết và lễ hội của Đền. Đền Thiên Quan có bố cục mặt bằng hình chữ Đinh gồm: Tiền tế và Hậu cung. Tiền tế đền Thiên Quan gồm 3 gian. Mái lợp ngói Di truyền thống, đường bờ nóc xây thẳng, trung tâm bờ nóc đắp hình hổ phù ngậm chữ Thọ đội mặt trời. Phía trên ban thờ treo bức đại tự đề 3 chữ Hán “Thiên quan từ” ( đền thờ Thiên Quan ). Hậu cung đền Thiên Quan gồm 1 gian. Hậu cung là nơi đặt khám thờ và tượng đức ông Thiên Quan. Tượng được tạo tác bằng gỗ trong tư thế ngồi trên bục, đầu đội mũ cánh chuồn, áo thụng thắt đai, hai tay để trên lòng đùi.
ĐỀN QUAN GIÁM
Đền Quan Giám (hay còn gọi là Nhà Oản) Thờ Quan Giám, trông coi công việc của di tích, giám sát việc dâng lễ vào Đền Chính. Đền Quan Giám nằm bên phải vuông góc với đền Hạ, có kiến trúc 3 gian, kích thước 3,7m x 7,2m phía sau mới làm một hậu cung nhỏ xây gạch đổ mái bằng là nơi đặt ngai thờ. Kết cấu đền Quan Giám được làm đơn giản, với 4 bộ vì kèo đứng trên quá giang bằng gỗ lim. Mái được lợp bằng ngói truyền thống, tường hồi bít đốc.
ĐỀN KỈ NIỆM
Là hạng mục công trình nằm tiếp giáp hồi trái đền thượng. Đền Kỉ niệm được khởi dựng từ sớm, trùng tu, tôn tạo lớn vào thời Nguyễn năm 1938 – 1940. Toàn bộ các cấu kiện kiến trúc: hoành, dui, xà, các bộ vì được kế thừa từ hai tòa Thượng điện và Hậu cung đền thượng. Đền Kỉ niệm là nơi thờ những người đã đứng ra hưng công xây dựng, trùng tu, tôn tạo ngôi đền như cụ Thông Huân, cụ Lê Đình Trân, cụ Phạm Công Kim Bảng,… Đền có kết cấu kiến trúc hình chữ Đinh gồm: 3 gian Tiền Tế và 1 gian Hậu cung. Hệ thống các bộ vì nóc được tạo tác theo kiểu “con chồng đấu kê” còn đồng bộ và vững chắc.
MIẾU CÔ
Miếu Cô là nơi thờ Tứ phủ thánh Cô, Tứ phủ thánh Cậu. Miếu cô đối diện với đền Quan Giám, nằm ở bên trái Đền Thượng với kiến trúc 3 gian, kết cấu vì kèo đơn giản. Ở chính giữa phía sau có một hậu cung nhỏ. Cạnh miếu Cô là nhà Vọng với kiến trúc 3 gian vì kèo tương tự.
ĐÌNH CĂN
Đình Căn toạ lạc trên mảnh đất cao ráo, thoáng đãng nằm cách khu Đền Chính chừng 500m. Đình là nơi tôn thờ Đức Ông Đại Phạm và Thiên Tiên. Đình Căn tương truyền được khởi dựng từ sớm, trùng tu vào thời Nguyễn. Đình có bố cục mặt bằng tổng thể hình chữ Nhị gồm: Tiền tế và Hậu cung. Các cấu kiện và thành phần kiến trúc tại đình còn đồng bộ, vững chắc mang đậm phong cách mỹ thuật thời Nguyễn. Mặt tiền đình quay hướng chính Tây.
Từ ngoài vào, qua khoảng sân rộng lát gạch là đến tòa Tiền tế. Tiền tế đình Căn là hạng mục kiến trúc gồm 5 gian. Mái Tiền tế lợp ngói mũi hài, đường bờ nóc xây thẳng trên phủ vữa áo. Cuối đường bờ nóc là hai đấu vuông thót đáy.
Gian trung tâm tòa Đại bái là nơi đặt ban thờ Đức Ông Đại Phạm – một trong Ngũ Lão Tiên Ông. Phía trên treo bức đại tự đề 3 chữ Hán “Thiên địa chấn”. Phía dưới là bức cửa võng, sơn son thiếp vàng trạm thủng đề tài ”cửu long tranh châu” ( chín rồng trang ngọc). Trên ban thờ bài trí ngai thờ Đức Ông Đại Phạm và các vị thần tiên cùng một số đồ thờ tự: Bát hương, chân nến, đỉnh đồng,… Hai gian hồi tòa Tiền tế là nơi đặt hai cỗ kiệu long đình được sơn son thết vàng, trang hoàng lộng lẫy dùng để rước các Ngài khi làng vào lễ hội.
Hậu cung đình Căn là một tòa nhà gồm 3 gian. Gian bên trái (theo hướng đình) là nơi đặt khám và tượng thờ Đức Ông Lý vực Trần Quân Đại vương. Gian bên phải là nơi đặt khám và tượng thờ Đức Ông Ngũ Lôi.
ĐÌNH VÔ
Đình Vô toạ lạc trên mảnh đất cao ráo, thoáng mát nằm cách khu đền chính chừng 200m. Đình là nơi tôn thờ Đức Ông Lỗ Quốc chúa Võ Đại vương – một trong Ngũ Lão Tiên Ông, có công diệt trừ hổ ác, dựng Thụy Ứng Quán. Đình Vô được khởi dựng từ sớm qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo. Hiện nay, đình mang đậm phong cách kiến trúc thời Nguyễn, với bố cục mặt bằng tổng thể hình chữ Đinh gồm: 3 gian Tiền tế và 1 gian Hậu cung. Mặt tiền đình quay hướng Nam. Các cấu kiện kiến trúc đều được làm từ vật liệu gỗ còn đồng bộ và vững chắc. Phía Đông của đình là miếu thờ Tiên bồng Đô Nguyên Súy theo thần tích là người góp công diệt trừ hổ ác cứu dân lành.
Nổi bật và đặc sắc nhất phải kể đến tòa tháp Cửu trùng ( 9 tầng) bằng đất nung nguyên khối được xây dựng từ thời Lí – Trần. Trải qua thời gian phong hóa mai một nhưng Tháp vaacn giữ nét cơ bản của hàng trăm năm trước tiền nhân đã tạo để kính thờ Trời – Đất cầu mưa thuận, gió hòa quốc thái, dân an. Họa tiết và chất liệu của tháp vừa có dáng dấp tháp Đình Bảng, vừa có nét văn hóa cổ Chăm Pa. Thân tháp được khắc hình cách điệu hoa sen, chim thần Garuda… Tháp cao chín tầng biểu thị chín tầng mây cao vời vợi của chốn cửu trùng. Trên đỉnh tháp có hình hồ lô, tương truyền là nơi tiếp dẫn Ngọc Hoàng giáng trần. Ngoài tháp Cửu trùng còn có bệ thờ bằng đất nung hình hoa sen đặt trong cung cấm, có cùng niên đại với tháp Cửu trùng; khánh đá cổ niên hiệu Vĩnh Trị nhà Hậu Lê ( 1676-1680); chuông đồng niên hiệu Cảnh Hưng nhà Hậu Lê ( 1740-1786) ; hai tấm bia đá thời Lí, Nguyễn ghi lại niên đại kiến trúc và những người có công tôn tạo, mở rộng trùng tu Đền Đậu An…
Hằng năm, lễ hội đền An Xá được diễn ra từ ngày mồng 1 đến 12 tháng 4 (âm lịch). Chính hội là từ ngày mồng 6 đến ngày mồng 8 tháng 4. Lễ hội đền An Xá ( nay là xã Hoàng Hoa Thám – tỉnh Hưng Yên) nổi tiếng trong vùng về quy mô đặc sắc, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân trong và ngoài tỉnh đến chiêm bái và cầu phúc. Lễ hội mang đậm nét đặc sắc của văn hóa dân gian nói chung và nét đẹp của nền văn hóa lúa nước vùng Bắc Bộ nói riêng. Đồng thời, gắn liền với sự hình thành và phát triển của văn hóa Đạo giáo ở nước ta. Lễ hội là sự thể hiện khát vọng cháy bỏng của con người về một cuộc sống yên vui, ấm no và hạnh phúc. Đặc biệt, trong lễ hội có tổ chức rước kiệu Ngọc Hoàng Thượng Đế cùng các vị Thiên Tiên, Địa Tiên, Ngũ Lão Tiên Ông mà chỉ ở Hưng Yên mới có. Phần hội diễn ra sôi nổi với việc biểu diễn lại tích “Mẹ con nhà Khó đánh hổ”, thu hút được đảo đảo du khách tham gia dự hội. Sự tích này, ngoài lớp vỏ ý nghĩa thể hiện tinh thần thượng võ, sức mạnh cộng đồng,… còn ẩn sâu bên trong là tín ngưỡng thờ Mẫu/Mẹ. Mẹ Khó ở đây thể hiện vai trò quan trọng của người Mẹ trong những chuỗi ngày đầu người Việt chinh phục vùng châu thổ. Đồng thời qua đó cũng cho thấy, khi Đạo giáo xâm nhập vào Việt Nam, đã phải dựa/hòa vào tín ngưỡng bản địa (tín ngưỡng thờ Mẫu/Mẹ) để tồn tại và phát triển.
Trong ngày hội, xưa kia còn có tục rước ông Đùng bà Đà. Đây là tín ngưỡng bản địa của cả người Việt và người Mường, mang đậm ý nghĩa phồn thực. Sự tích và nghi lễ rước ông Đùng, bà Đà tại đền Đậu An khá đa nghĩa. Lớp tín ngưỡng sớm nhất ở đây vẫn là tín ngưỡng bản địa, cầu phồn thực. Trong ngày hội xưa, tổ chức rước vào chập tối, đến đêm có lễ “tắt đèn” diễn ra trong khoảng 2 giờ đồng hồ, người chủ tế lấy hai hình tượng sinh thực khí của ông Đùng bà Đà làm các hành động mang ý nghĩa tính giao hòa âm dương. Họ quan niệm âm – dương hòa hợp như vậy mùa màng sẽ hội thu. Về sau hình ảnh ông Đùng, bà Đà đã được khoác cho lớp ý nghĩa mang đậm tính chất Đạo giáo, hóa thân thành những vị thần tiên: Thiên tiên (ông Đùng), Địa tiên (bà Đà).


Đền An Xá nay đền Đậu An xưa mang trong mình những giá trị lịch sử văn hóa vật thể và phi vật thể tạo thành một tổng thể, một không gian văn hóa đặc sắc. Sự đan xen, hòa quyện của những giá trị văn hóa đặc sắc này khiến cho di tích Quốc gia đặc biệt đền An Xá ngày càng có vai trò tín ngưỡng, tâm linh quan trọng trong đời sống của người dân nơi đây, khẳng định vị thế là điểm đến du lịch tâm linh không thể thiếu của du khách thập phương mỗi khi về với Hưng Yên.
Thiên – Địa – Nhân luôn có mối tương quan huyền diệu. Đền Đậu An xưa (nay là đền An Xá) đã vượt xa tên gọi của một ngôi đền của xóm của làng để vươn tới đỉnh cao của giá trị lịch sử, giá trị tinh thần tâm linh tín ngưỡng, và là đỉnh cao của kiến trúc nghệ thuật mà cha ông ta bằng tín tâm thánh thiện và tài năng kiệt xuất đã để lại con cháu muôn đời sau.







